Chapter 8 of 11

Chương 7: Không Ai Nhớ

2.6k words

Khu an toàn nơi lực lượng của thiếu tá Lâm rút về nằm sâu trong một thung lũng đá vôi cách bờ biển ba ngày đường, nơi người ta gọi bằng cái tên cũ từ thời kháng chiến chống Pháp mà tôi chỉ từng đọc trong sách sử: An Toàn Khu. Chỉ có điều lần này, cái tên ấy mang một nghĩa nặng nề hơn nhiều so với những gì tôi từng hình dung khi ngồi trong lớp học ở một thế giới khác — đây không còn là một khu vực bí mật giữa một đất nước vẫn còn liên lạc được với phần còn lại của nó, mà là một trong số ít nơi còn sót lại có thể tạm gọi là an toàn giữa một đất nước đã hoàn toàn mất liên lạc với chính khái niệm "phần còn lại". Con đường vào thung lũng ngoằn ngoèo qua ba lớp kiểm soát, mỗi lớp đều có một thầy cúng hoặc bà mế ngồi cạnh người lính gác, không phải để trang trí, tôi hiểu ngay khi nhìn thấy cách họ soi từng người đi qua bằng một loại gương đồng nhỏ trước khi gật đầu cho qua. Súa giải thích, khi thấy tôi nhìn chăm chú: đó là cách duy nhất người ta tìm ra được để phát hiện những trường hợp giống Hùng trước khi để họ vào sâu trong khu vực đông người — soi bóng qua gương đồng, vì bất cứ thứ gì thiếu bóng trong ánh sáng thường sẽ hiện ra rõ ràng hơn nhiều dưới ánh đồng. "Từ khi nào người ta biết cách làm việc này?" tôi hỏi. "Từ sau đợt đầu tiên có người giống Hùng xuất hiện," cô đáp, giọng không mấy ngạc nhiên. "Cậu ấy không phải trường hợp đầu tiên. Chỉ là trường hợp đầu tiên chúng ta tận mắt thấy." Tin đó khiến tôi lạnh người hơn bất cứ điều gì tôi từng nghe kể từ đêm đầu tiên rơi vào thế giới này — không phải vì bản thân sự tồn tại của những "trường hợp" khác, mà vì cách Súa nói ra nó, bình thản như đang nói về một loại bệnh dịch mùa đã có phác đồ điều trị quen thuộc, thứ mà một tháng trước, có lẽ chính cô cũng sẽ không nói được bằng giọng điệu ấy. Bên trong thung lũng, An Toàn Khu hoá ra lớn hơn nhiều so với tưởng tượng của tôi — không phải một trại quân sự đơn thuần, mà gần như một thị trấn nhỏ mọc lên vội vã dưới tán rừng, với xưởng rèn vũ khí thô sơ, một trạm xá lớn hơn hẳn bất cứ nơi nào tôi từng thấy, và đặc biệt, một dãy nhà tranh dài được gọi là "Viện Khảo Cứu" — cái tên nghe có phần quá trang trọng cho một dãy nhà tranh vách nứa, nhưng khi bước vào, tôi hiểu ngay vì sao nó xứng đáng với cái tên đó. Chính uỷ Khải đã có mặt ở đó trước khi chúng tôi tới, được điều động lên từ Hà Nội để trực tiếp giám sát công tác chuẩn bị cho chiến dịch lớn sắp tới. Ông tiếp Tuấn và tôi trong một góc của Viện Khảo Cứu, giữa những chồng sổ tay chép tay và những tấm bản đồ cũ được dán chồng lên nhau để vẽ thêm những khu vực mới phát hiện có "hoạt động bất thường". "Bảy mạng người các đồng chí mang về," Khải nói, không phải một câu hỏi, "đã cho chúng tôi nhiều thông tin hơn ba tháng trinh sát trước đó cộng lại. Nhưng cái giá phải trả—" ông liếc nhìn Tuấn một cái ngắn "—tôi đã đọc báo cáo của thiếu tá Lâm." Tuấn không nói gì, chỉ đứng nghiêm hơn một chút, như đang chờ một hình phạt mà ông đã tự chuẩn bị tinh thần từ lâu. "Tôi không định kỷ luật đồng chí," Khải nói tiếp, giọng dịu đi một chút hiếm hoi. "Tôi định giới thiệu đồng chí với một người có thể giúp đồng chí hiểu rõ hơn thứ suýt lôi đồng chí qua cánh cổng đó là gì." Người ông giới thiệu là một cụ già gầy gò, lưng còng, tên Vĩnh — từng là giảng viên sử học ở một trường đại học tại Hà Nội trước khi cả trường đại học ấy trở thành một phần của quá khứ không còn tồn tại được nữa. Cụ ngồi giữa một đống tài liệu cao ngất, phần lớn là những trang giấy chép tay lời kể của hàng chục nhân chứng khác nhau, được cụ tự tay phân loại theo một hệ thống chỉ riêng cụ hiểu được. "Cháu là người thấy cánh cổng dẫn tới con trai đội trưởng Tuấn," cụ nói với tôi, không phải một câu hỏi, khi tôi ngồi xuống theo lời mời. Tôi gật đầu, hơi bất ngờ vì cụ đã biết chi tiết đó. "Ta muốn hỏi cháu một điều duy nhất, và xin cháu trả lời thật chính xác, đừng thêm bớt gì theo cảm xúc: giọng nói đó gọi tên đội trưởng Tuấn, hay gọi ông bằng danh xưng?" Tôi nhớ lại. "Nó gọi 'bố'," tôi nói. "Không gọi tên." Cụ Vĩnh gật đầu, ghi lại điều đó vào một cuốn sổ riêng, có vẻ hài lòng vì tìm được xác nhận cho một giả thuyết cụ đang theo đuổi. "Đó là điều nhất quán trong mọi trường hợp ta ghi nhận được," cụ nói, phần nhiều như đang nói với chính mình hơn là với tôi. "Nó không bao giờ dùng tên riêng để dụ dỗ. Nó dùng danh xưng — bố, mẹ, thầy, con — những từ chỉ có ý nghĩa khi có một mối quan hệ thật đứng đằng sau chúng. Ta ngờ rằng nó không thật sự 'biết' con trai đội trưởng Tuấn là ai. Nó chỉ biết cách lấy chính xác thứ tình cảm đang tồn tại trong lòng một người, rồi phản chiếu lại đúng hình dạng người đó muốn thấy nhất." "Vậy nó là cái gì?" Tuấn hỏi, giọng khàn, câu hỏi ông chắc hẳn đã muốn hỏi từ lâu nhưng chưa dám nói ra thành lời trước mặt bất cứ ai. Cụ Vĩnh im lặng một lúc lâu, nhìn ra ngoài khung cửa sổ về phía những ngọn núi đá vôi bao quanh thung lũng. "Ta không biết," cụ nói, thành thật đến mức khiến câu trả lời ấy có sức nặng hơn bất cứ lời giải thích chi tiết nào. "Nhưng ta biết một điều: trong tất cả các bộ sử biên niên cũ ta từng đọc, từ thời Lý, thời Trần, cho tới các ghi chép dân gian rải rác khắp ba miền, luôn có một vài dòng, thường bị coi là truyền thuyết hoang đường, nhắc tới một 'kinh đô dưới trăng' xuất hiện rồi biến mất, chỉ hiện ra với những ai đang mang trong lòng một nỗi tiếc nuối đủ lớn. Ta từng nghĩ đó chỉ là ẩn dụ văn học. Giờ ta không còn chắc chắn về điều đó nữa." Không ai trong phòng nói gì thêm sau câu đó. Tôi nhìn thấy tay Tuấn siết chặt lại quanh cuốn sổ da của mình, và tôi biết ông, cũng như tôi, vừa nghe thấy một điều vừa an ủi vừa đáng sợ hơn bất cứ lời giải thích khoa học nào có thể mang lại: rằng thứ họ đang đối mặt không phải một hiện tượng mới, mà một điều gì đó đã luôn ở đó, chờ đợi, qua hàng trăm năm, chỉ chưa từng có dịp lớn đến mức này để hiện ra trọn vẹn. Tin về Hùng đến vào buổi chiều hôm sau, qua một người giao liên phi ngựa suốt đêm từ trạm chuyển quân gần nhất. Tuấn đọc bức điện hai lần trước khi đưa cho tôi xem, tay ông run dữ dội hơn bất cứ lúc nào tôi từng chứng kiến, kể cả đêm ở cổng gỗ. Nội dung ngắn gọn đến tàn nhẫn: xe chuyển quân chở Hùng cùng ba thương binh khác đã đến cơ sở tuyến sau đúng giờ, đúng lịch trình. Nhưng khi kiểm đếm quân số lúc xuống xe, chỉ có ba người. Người áp tải — chính là người lính đã ngồi cạnh Hùng suốt chặng đường, trò chuyện với cậu, thậm chí chia sẻ khẩu phần lương khô — khi được hỏi, khăng khăng rằng chuyến xe chỉ chở ba thương binh ngay từ đầu, và tỏ ra bối rối, gần như tức giận, khi bị hỏi lại nhiều lần về một người thứ tư không hề tồn tại trong trí nhớ của anh ta. Danh sách quân số viết tay trước khi xe khởi hành, được lưu lại tại trạm gác cũ, vẫn còn nguyên bốn cái tên. Tên Hùng vẫn nằm đó, nét chữ rõ ràng, không hề bị xoá hay sửa. Nhưng không một ai — không người áp tải, không tài xế, không cả ba thương binh còn lại cùng đi trên chuyến xe đó — còn nhớ được rằng cậu từng ngồi trên xe cùng họ. "Cậu ấy không biến mất," tôi nói, nhận ra điều đó ngay khi đọc xong bức điện, một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng nhanh hơn cả khi đối mặt với Ma Xó. "Cậu ấy chưa bao giờ 'ở đó' theo cách khiến người khác nhớ được. Ngay từ đầu." Kiên, khi nghe tin, không nói được lời nào trong gần một giờ đồng hồ. Cậu ngồi ở bậc cửa Viện Khảo Cứu, tay siết chặt lấy hộp thư thiếc, và khi cuối cùng cậu lên tiếng, giọng cậu phẳng lặng đến đáng sợ, thứ phẳng lặng chỉ có được khi một người đã vượt qua ngưỡng hoảng loạn để rơi vào một trạng thái tê liệt còn nguy hiểm hơn. "Tôi đã kể cho cậu ấy nghe về Tí," cậu nói. "Tôi đã kể tên từng đứa học trò của mình cho một người mà giờ không ai nhớ được là có tồn tại. Vậy khi tôi chết, ai sẽ nhớ rằng tôi đã từng kể những cái tên đó cho ai nghe?" Súa ngồi xuống cạnh cậu, không nói gì trấn an, chỉ đặt tay lên vai cậu theo đúng cách cô vẫn làm với Tuấn — một sự hiện diện im lặng thay cho những lời nói vô nghĩa. Cụ Vĩnh, khi nghe tin, lại có phản ứng khác hẳn — gần như phấn khích, dù cụ cố che giấu điều đó sau vẻ mặt nghiêm trọng phù hợp với hoàn cảnh. Cụ ghi chép liên tục trong suốt cả buổi tối, thì thầm một mình những cụm từ như "vật mang không hoàn chỉnh" hay "ký ức không neo được", cho đến khi Tuấn, mất kiên nhẫn hiếm hoi, lên tiếng cắt ngang. "Cụ tìm ra được gì có ích không, hay chỉ tìm ra được thêm câu hỏi?" Cụ Vĩnh ngừng viết, nhìn ông một lúc lâu trước khi trả lời, giọng bớt phấn khích hẳn. "Có một điều có ích," cụ nói. "Nếu Nguyệt Đô có thể gửi ra một thứ mà chính con người sống cùng nó cũng không nhớ được sự tồn tại, thì rất có thể nó đã làm điều này nhiều lần trước đây, với nhiều người khác, mà chúng ta chưa bao giờ biết vì chính chúng ta cũng không nhớ được. Có bao nhiêu cánh cổng đã mở ra quanh ta, đồng chí đội trưởng? Có bao nhiêu lần một trong số các đồng chí đã đứng trước một cánh cổng và bước qua, mà giờ đây không một ai, kể cả chính người đó, còn nhớ được sự việc đã xảy ra?" Câu hỏi ấy treo lơ lửng trong căn phòng như một lưỡi dao chưa rơi xuống, và không ai, kể cả cụ Vĩnh, có đủ can đảm để cố tìm ra câu trả lời ngay lúc đó. Đêm hôm đó, tôi thấy Súa đi một vòng quanh toàn bộ khu lều của đội, đếm lại từng người một, gọi tên từng người, chờ họ đáp lại bằng chính giọng nói của mình trước khi gật đầu chuyển sang người tiếp theo — không phải vì nghi ngờ một ai cụ thể, mà vì, như cô giải thích khi tôi hỏi, "nếu có ai trong chúng ta không còn thật sự ở đây nữa, tôi muốn là người đầu tiên biết, chứ không phải người cuối cùng quên." Tôi để ý Kiên đêm đó không viết thư. Lần đầu tiên kể từ ngày tôi gặp cậu, chiếc hộp thiếc vẫn đóng kín trên đùi cậu suốt cả buổi tối, và khi tôi hỏi vì sao, cậu chỉ nhìn tôi, mắt đỏ hoe nhưng khô ráo, như đã khóc hết nước mắt từ rất lâu trước đó. "Nếu viết ra rồi cũng chẳng ai nhớ được là tôi đã viết," cậu nói, "thì tôi viết để làm gì?" Tôi ngồi xuống cạnh cậu, và lần này, tôi không để im lặng của mình là câu trả lời duy nhất. "Cậu viết không phải để người khác nhớ," tôi nói. "Cậu viết để chính cậu còn nhớ được. Nguyệt Đô có thể lấy đi ký ức của người khác về Hùng. Nhưng chừng nào cậu còn cầm bút, còn nhớ được ba mươi mốt cái tên, thì phần đó của cậu vẫn còn thuộc về cậu, không phải về nó." Kiên không trả lời ngay. Nhưng đêm đó, trước khi tắt đèn, tôi thấy cậu mở hộp thư ra, và bắt đầu viết — không phải cho Tí, hay bất cứ học trò nào, mà một trang giấy mới, đề tên: "Gửi Hùng, người tôi hy vọng ai đó, ở đâu đó, còn nhớ." Ba ngày sau, thiếu tá Lâm và Khải triệu tập toàn bộ các đội trưởng để công bố kế hoạch cho chiến dịch lớn — chiến dịch mà mọi thứ chúng tôi đã trải qua, mọi mất mát, mọi mảnh thông tin cụ Vĩnh cẩn thận ghép lại, đều chỉ là bước chuẩn bị. Tuấn trở về từ cuộc họp với vẻ mặt của một người vừa được giao một nhiệm vụ ông biết mình không có quyền từ chối, dù mọi bản năng còn sót lại đều hét lên rằng ông nên làm vậy. "Lần tới," ông nói với cả đội, giọng không còn chút do dự nào của một tuần trước, "chúng ta không vào để trinh sát hay giải cứu nữa. Chúng ta vào để tìm ra nguồn phát ra tiếng chuông đó, và nếu có thể, phá huỷ nó, trước khi nó gửi ra thêm bất cứ thứ gì khác mà không ai trong chúng ta còn kịp nhớ." Ngoài cửa sổ Viện Khảo Cứu, những ngọn núi đá vôi đứng lặng lẽ dưới bầu trời chiều nhạt nắng, và tôi tự hỏi, không phải lần đầu tiên kể từ đêm rơi vào thế giới này, có bao nhiêu điều khác nữa, quanh chúng tôi ngay lúc này, đã âm thầm bị lấy đi khỏi trí nhớ tập thể của cả một dân tộc, đến mức không ai còn đủ khả năng nhận ra sự vắng mặt của chính chúng.

End of Chapter 8