Trại dã chiến sau lưng Nguyệt Đô, khi chúng tôi trở về, không còn là nơi tập kết đầy khí thế của ba ngày trước nữa. Gần sáu mươi người trong lực lượng gần hai trăm của thiếu tá Lâm đã không trở ra, và số còn lại mang trên mình đủ loại vết thương mà không một quân y nào ở đây được huấn luyện để xử lý hết — không chỉ những vết cào, vết rách do móng vuốt, mà cả những ánh mắt trống rỗng của người vừa nhìn thấy một ảo ảnh quá thật để có thể quên, dù thân thể họ không hề hấn gì.
Kiên được đặt nằm trong một trong ba căn lều dành cho thương binh, vết cào bên sườn đã được khâu tạm bằng chỉ và kim đun qua lửa — quân y ở đây không còn đủ thuốc sát trùng để dùng cho những vết thương "nhẹ", họ nói, dành phần thuốc ít ỏi còn lại cho những ca nặng hơn. Cậu nằm đó ba ngày, sốt nhẹ rồi hạ, và trong suốt ba ngày ấy, tôi thay phiên cùng Súa ngồi cạnh, không hẳn vì cậu cần canh chừng, mà vì không ai trong hai chúng tôi muốn để cậu một mình với những con số cậu vẫn lẩm bẩm trong lúc mê sảng — không phải tên học trò lần này, mà là một con số duy nhất, lặp đi lặp lại: "ba mươi hai, ba mươi hai, ba mươi hai."
Đêm thứ hai, khi cơn sốt lên cao nhất, cậu tỉnh dậy giữa chừng, mồ hôi đầm đìa, và nắm chặt lấy cổ tay tôi với một sức mạnh đáng ngạc nhiên cho một người vừa mất nhiều máu đến thế.
"Nếu tôi chết trước khi ra được khỏi đây," cậu nói, giọng gấp gáp như sợ không còn thời gian, "anh hứa với tôi một việc."
Tôi hỏi việc gì.
"Đốt cái hộp thư đi. Đừng để ai đọc chúng." Cậu siết chặt tay tôi hơn. "Không phải vì chúng riêng tư. Mà vì nếu có ai đó không phải học trò tôi đọc được chúng, biết được từng cái tên, từng chi tiết nhỏ tôi nhớ về mỗi đứa — tôi sợ nó sẽ học được cách dùng chúng, giống như nó đã học được giọng nói của con trai đội trưởng."
Tôi hứa. Cậu ngủ lại ngay sau đó, và tới sáng, khi cơn sốt đã hạ hẳn, cậu không nhắc lại chuyện đêm qua, như thể phần con người trong cậu vừa nói ra điều đó là một phần cậu không muốn giữ lại khi tỉnh táo.
Tuấn không vào lều thương binh lần nào trong ba ngày đó. Ông ở trong lều chỉ huy tạm, nơi thiếu tá Lâm triệu tập từng đội trưởng một để lấy báo cáo, và khi tới lượt đội của chúng tôi, tôi là người phải đứng ngoài nghe qua tấm vải lều mỏng, vì Tuấn, lần đầu tiên kể từ ngày tôi gặp ông, đã đề nghị được báo cáo một mình.
Tôi không nghe được hết, nhưng tôi nghe được đủ để hiểu ông đã kể lại toàn bộ chuyện xảy ra ở cánh cổng gỗ đó — không giấu giếm, không bào chữa — và tôi nghe được giọng thiếu tá Lâm, bình thản đến lạnh lùng, hỏi ông một câu duy nhất sau khi nghe hết:
"Đồng chí có còn tin mình đủ khả năng cầm đội không?"
Một khoảng im lặng dài đến mức tôi tưởng cuộc trò chuyện đã kết thúc. Rồi giọng Tuấn, khàn đặc:
"Tôi không biết. Nhưng tôi biết nếu để người khác cầm đội thay, tôi sẽ không tha thứ được cho bản thân nếu có chuyện gì xảy ra với họ mà lẽ ra tôi ngăn được."
"Đó không phải câu trả lời tôi hỏi."
"Đó là câu trả lời duy nhất tôi có."
Lâm không nói gì thêm về chuyện đó nữa. Ông chuyển sang hỏi về tình hình bảy người sống sót, về lộ trình rút quân, về những chi tiết chiến thuật khô khan khác — nhưng tôi hiểu, đứng ngoài tấm vải lều ấy, rằng câu trả lời của Tuấn, dù không phải điều Lâm muốn nghe, đã đủ để ông được giữ lại vị trí chỉ huy, ít nhất là cho đến khi có bằng chứng ngược lại.
Buổi tối hôm đó, Tuấn tìm đến lều thương binh lần đầu tiên. Ông không nói gì với Kiên đang ngủ, chỉ đứng nhìn một lúc lâu, rồi quay sang tôi, đang ngồi trực ca đêm.
"Cảm ơn," ông nói, chỉ vậy thôi, không giải thích thêm, nhưng tôi hiểu ông đang cảm ơn cho cả cái đêm ở cổng gỗ lẫn việc tôi chưa từng kể lại chi tiết đó cho ai ngoài đội, kể cả khi Lâm hỏi thẳng.
"Chú không cần cảm ơn," tôi nói. "Ai cũng có một cánh cổng của riêng mình. Cháu chỉ may mắn là chưa tìm thấy cánh cổng của mình thôi."
Ông nhìn tôi một lúc lâu, như đang cân nhắc có nên hỏi thêm gì không, nhưng cuối cùng chỉ gật đầu, và rời đi.
Bảy người được cứu ra khỏi Nguyệt Đô được bố trí nghỉ trong một khu lều riêng, cách ly tạm thời theo lệnh của quân y — không phải vì nghi ngờ họ mang bệnh truyền nhiễm theo nghĩa thông thường, mà vì không ai dám chắc "sáu tuần trong đó" đã để lại điều gì trên người họ mà mắt thường chưa nhìn thấy được. Súa là người tình nguyện chăm sóc họ nhiều nhất, phần vì cô có kinh nghiệm chữa trị dân gian hơn hẳn đám lính trẻ khác, phần vì, tôi nghĩ, cô cần một việc gì đó để làm bằng đôi tay mình sau ba ngày không có gì để chiến đấu.
Trong số bảy người, một cậu lính trẻ tên Hùng — có lẽ chỉ nhỉnh hơn Kiên vài tuổi — là người hồi phục thể chất nhanh nhất, đến mức chỉ hai ngày sau đã có thể tự đi lại, phụ giúp Súa chia khẩu phần ăn cho những người còn lại. Cậu nói nhiều, cười nhiều, kể về quê mình ở một vùng trung du nào đó với giọng điệu của người đang cố lấp đầy sáu tuần câm lặng bằng bất cứ âm thanh nào có thể thốt ra được. Kiên, khi đã tỉnh táo hơn, thích nói chuyện với cậu nhất trong số bảy người, có lẽ vì cả hai đều có cùng một kiểu năng lượng — cố gắng giữ mọi thứ nhẹ nhàng trong một thế giới không cho phép điều đó tồn tại lâu.
Chính Súa là người đầu tiên nhận ra điều bất thường, vào buổi chiều thứ tư sau trận đánh.
Cô đang chia cơm cho từng người trong khu lều cách ly, và khi đến lượt Hùng, cô đặt bát cơm xuống trước mặt cậu như mọi lần — nhưng tay cô khựng lại giữa chừng, mắt dán chặt xuống mặt đất bên dưới chỗ cậu ngồi.
Ánh nắng chiều hắt xiên qua khe lều, đủ để đổ bóng dài của mọi người ngồi trong lều lên vách vải — mọi người, trừ Hùng. Chỗ cậu ngồi, mặt đất và vách lều phía sau vẫn sáng đều, trống trơn, như thể ánh sáng đi xuyên qua cậu mà không hề vấp phải bất cứ điều gì cần phải cản lại.
Súa không nói gì ngay lúc đó. Cô đặt nốt bát cơm xuống, mỉm cười với Hùng như không có chuyện gì, rồi lặng lẽ rời khỏi lều, đi thẳng tới chỗ tôi và Tuấn đang kiểm tra lại vũ khí ở bên ngoài.
"Đi theo tôi," cô nói, giọng không để lộ cảm xúc gì, thứ khiến cả hai chúng tôi lập tức bỏ dở việc đang làm.
Tối hôm đó, ba chúng tôi — không có Kiên, vì Súa nói rõ cô không muốn cậu biết chuyện này cho đến khi có gì đó chắc chắn hơn để nói — quan sát Hùng từ xa qua khe hở của tấm vải lều, dưới ánh lửa trại bập bùng phía ngoài.
Điều thứ hai chúng tôi nhận ra, sau cái bóng, là cách cậu nói chuyện với những người xung quanh. Khi một người lính khác trong lều bắt đầu kể một câu chuyện, Hùng thường bật cười, hoặc gật đầu đồng tình, đúng một nhịp thở trước khi câu chuyện đi đến đoạn đáng cười hoặc đáng đồng tình — không phải đoán trước theo cách người nghe nhanh nhạy vẫn làm, mà một sự chính xác tuyệt đối, như thể cậu đã nghe câu chuyện đó trước rồi, dù rõ ràng đây là lần đầu tiên nó được kể ra.
"Nó không sai lệch nhiều," Súa nói, rất khẽ. "Chỉ lệch đúng một nhịp. Như một cái bóng cố bắt kịp người, nhưng lại đi trước một chút thay vì đi sau."
Tuấn hỏi cô nghĩ đó là gì. Cô im lặng một lúc lâu trước khi trả lời.
"Tôi không biết tên nó," cô nói. "Đây không phải ma nuôi, không phải ma xó, không phải bất cứ loại nào tôi từng được dạy để nhận biết ở quê mình. Có lẽ vì nó không phải thứ được sinh ra từ đất này." Cô nhìn qua khe vải một lần nữa, về phía Hùng đang cười đùa với những người xung quanh, hoàn toàn không hay biết mình đang bị quan sát. "Có lẽ nó là thứ mà cái thành phố đó tạo ra, để mang theo người ra ngoài, giống như một hạt giống được cài vào đất trước khi biết đất đó có chịu mọc lên hay không."
Chúng tôi không dám kết luận gì thêm đêm đó, và cũng không dám hành động gì với Hùng khi chưa chắc chắn — cậu vẫn cười nói, vẫn giúp đỡ mọi người, vẫn là chính cậu theo mọi cách một người có thể nhận ra được bằng mắt thường. Nhưng Súa bắt đầu để ý cậu sát sao hơn, và Tuấn âm thầm đặt một người lính canh không rõ nhiệm vụ thật sự gần khu lều cách ly hơn mọi khi.
Điều tồi tệ nhất xảy ra vào đêm thứ sáu, khi Kiên, đã đủ khoẻ để tự đi lại, quyết định ghé thăm Hùng trước khi đi ngủ — điều mà không ai kịp ngăn cản vì không ai nghĩ ra lý do hợp lý để giải thích tại sao nên ngăn cản một cuộc thăm hỏi bình thường giữa hai người bạn mới.
Tôi chỉ biết chuyện đã xảy ra khi nghe tiếng Kiên hét lên từ phía lều cách ly, một tiếng hét không phải vì đau đớn thể xác, mà vì một nỗi kinh hoàng thuần tuý tôi chưa từng nghe từ cậu, kể cả trong đêm đối mặt với Ma Xó.
Khi tôi và Tuấn lao tới, chúng tôi thấy Kiên đứng sững ở lối vào lều, lưng dán chặt vào cột chống, còn Hùng đứng cách cậu vài bước, đầu nghiêng sang một bên theo một góc độ không tự nhiên, miệng vẫn giữ nguyên nụ cười thân thiện mọi khi — nhưng từ cái miệng ấy, thay vì giọng nói quen thuộc của cậu, phát ra tiếng đọc lại, chậm rãi, chính xác đến từng dấu phẩy, một đoạn thư Kiên viết cho học trò tên Tí ba đêm trước khi trận đánh diễn ra — một lá thư Kiên chưa từng đọc to cho bất cứ ai nghe, kể cả tôi.
"Sao mày biết," Kiên hét lên, giọng vỡ ra giữa chừng, "sao mày biết cái đó—"
Hùng — hoặc thứ đang mặc hình dạng Hùng — ngừng đọc, và trong một khoảnh khắc, đôi mắt cậu, vẫn là đôi mắt Hùng về mọi hình dạng bên ngoài, nhìn thẳng vào Kiên với một sự trống rỗng khiến tôi lạnh toát sống lưng, trước khi chớp mắt và trở lại bình thường, giọng nói trở lại là giọng Hùng vẫn hay dùng, bối rối hỏi tại sao mọi người lại nhìn cậu như vậy, cậu vừa nói gì sai à.
Cậu không nhớ mình vừa làm gì. Điều đó, hơn bất cứ chi tiết nào khác đêm hôm ấy, khiến Súa quyết định không thể chờ đợi thêm được nữa.
Chúng tôi không giết Hùng đêm đó, dù tôi biết ít nhất Tuấn đã nghĩ đến điều đó, tay ông đặt lên báng súng suốt cả cuộc trò chuyện căng thẳng sau đó trong lều chỉ huy. Súa là người phản đối mạnh nhất.
"Nó không giống ma chài, không giống ma xó," cô nói, giọng cứng rắn hơn tôi từng nghe từ cô. "Những thứ đó là vong nhập vào một cái xác hoặc một sinh vật đã đồng ý — hoặc bị ép buộc — làm vật chủ. Hùng không đồng ý gì cả. Cậu ấy chỉ tình cờ ở sai chỗ trong sáu tuần, và có thứ gì đó bám theo cậu ấy ra ngoài mà không cần hỏi ý kiến. Giết cậu ấy không giải quyết được gì, ngoài việc biến chúng ta thành đúng loại người sẵn sàng giết một nạn nhân chỉ vì họ mang vết thương không nhìn thấy được."
Tuấn cuối cùng đồng ý với cô, dù tôi thấy rõ đó không phải vì ông tin chắc đó là quyết định đúng, mà vì ông không đủ sức đối mặt thêm một lần nữa với việc phải ra lệnh giết một người mang gương mặt của ai đó ông từng cố cứu.
Quyết định cuối cùng, sau một đêm bàn bạc với thiếu tá Lâm, là đưa Hùng — cùng với lời cảnh báo đầy đủ — về một cơ sở đặc biệt ở tuyến sau, nơi được mô tả mơ hồ là "dành cho những trường hợp chưa có tiền lệ", cùng với hồ sơ chi tiết Súa đã ghi lại về mọi biểu hiện bất thường quan sát được. Cậu ra đi trong tình trạng hoàn toàn không hay biết gì về lý do thật sự, tin rằng mình chỉ đang được chuyển tuyến để điều trị thêm, vẫn cười, vẫn vẫy tay tạm biệt Kiên với một sự chân thành khiến chính tôi cũng phải tự hỏi liệu chúng tôi có đang đối xử bất công với một con người vô tội, hay đang thả một quả bom hẹn giờ đi khắp đất nước dưới vỏ bọc lòng thương xót.
Kiên không nói gì trong suốt buổi tối hôm đó. Cậu ngồi ở rìa trại, tay ôm lấy chiếc hộp thiếc đựng thư, và khi tôi ngồi xuống bên cạnh, cậu chỉ hỏi tôi một câu, giọng nhỏ đến mức gần như lẫn vào tiếng gió:
"Nếu nó đọc thuộc thư tôi viết cho Tí, vậy nó có đang đọc được cả những gì tôi chưa viết ra không?"
Tôi không có câu trả lời cho câu hỏi đó, và tôi nghĩ, đêm đó, không ai trong doanh trại có câu trả lời tốt hơn tôi.
Súa tìm tôi vào lúc gần sáng, khi tôi đang trực gác ca cuối. Cô không nói gì trong một lúc lâu, chỉ đứng cạnh tôi, nhìn về hướng con đường Hùng đã được đưa đi lúc chiều tối.
"Ở quê tôi," cuối cùng cô nói, "chúng tôi tin rằng mọi thứ ma quỷ đều cần một con đường để đi vào — một cánh cửa bỏ ngỏ, một lời mời vô tình, một nỗi đau chưa được xử lý. Chúng tôi luôn nghĩ nếu đóng hết mọi cánh cửa đó lại, mọi lời mời đó lại, thì có thể an toàn." Cô thở dài, hơi thở tan vào sương sớm. "Nhưng Hùng không mở cửa nào cả. Cậu ấy chỉ đứng sai chỗ, đúng lúc. Nếu ngay cả điều đó cũng đủ để một thứ đi theo về nhà, vậy thì chúng ta còn có thể tự bảo vệ mình bằng cách nào nữa?"
Tôi không trả lời ngay. Tôi nghĩ về Tuấn và cánh cổng gỗ, về Kiên và ba mươi hai cái đầu trong lớp học, về chính tôi, người duy nhất trong thành phố đó không có gì để mất vì chưa có đủ thời gian để yêu bất cứ điều gì ở thế giới này đủ sâu.
"Có lẽ," tôi nói, cuối cùng, "câu trả lời không phải là đóng hết mọi cánh cửa. Mà là học cách nhận ra khi nào một người bước ra từ cánh cửa đó không còn hoàn toàn là chính họ nữa — trước khi quá muộn để làm gì đó tử tế cho cả họ lẫn những người xung quanh."
Súa không đáp lại, nhưng cô đứng đó cùng tôi cho đến khi mặt trời — mặt trời thật, không phải vầng trăng đỏ giả tạo nào — bắt đầu ló lên ở phía chân trời, nhuộm cả bầu trời một màu cam nhạt bình thường đến mức gần như xa lạ sau những gì chúng tôi vừa trải qua.
Ba ngày sau, lệnh mới từ Khải được chuyển tới qua đường giao liên: toàn bộ lực lượng rút về củng cố, chuẩn bị cho một chiến dịch quy mô lớn hơn nhắm vào Nguyệt Đô, dự kiến sau khi có thêm thông tin tình báo từ chính những gì đội chúng tôi đã mang về — bảy mạng người, một cái tên có luật riêng của nó, và giờ đây, thêm một câu hỏi mới không ai trong chúng tôi biết cách trả lời: điều gì khác, ngoài Hùng, có thể đã đi theo chúng tôi ra khỏi thành phố đó mà chưa ai kịp nhận ra.