Chapter 6 of 11
Chương 5: Thành Phố Không Đổ Bóng
1.8k words
Chúng tôi không đến Nguyệt Đô một mình. Ba ngày trước khi tới được rìa vùng ảnh hưởng của nó, đội chúng tôi nhập vào một lực lượng lớn hơn nhiều lần — gần hai trăm người, tập hợp từ bốn hướng khác nhau, đóng quân tạm trong một cánh rừng thưa cách bờ biển chừng mười cây số. Lần đầu tiên kể từ đêm rơi vào thế giới này, tôi nhìn thấy một thứ gì đó giống với một đội quân thật sự, chứ không phải những nhóm nhỏ sống sót lay lắt tôi đã quen thấy.
Người chỉ huy chiến dịch là một người đàn ông tên Lâm, mang quân hàm thiếu tá, có giọng nói vang mà không cần lớn tiếng, kiểu giọng của người đã quen ra lệnh cho hàng trăm mạng người cùng lúc và đã học được cách không để nó run lên dù chỉ một lần. Ông không dành nhiều thời gian cho chúng tôi — với ông, đội của Tuấn chỉ là một trong hàng chục đơn vị nhỏ được biên chế vào chiến dịch — nhưng khi biết Tuấn từng nhận công văn niêm phong trực tiếp từ Chính uỷ Khải, ông gật đầu một cái, ngắn gọn, như đánh dấu một điều gì đó trong đầu.
Tối hôm đó, lần đầu tiên, Tuấn mở túi công văn ra đọc to cho cả bốn chúng tôi cùng nghe, dưới ánh đèn dầu che kín trong lều vải.
Nội dung không dài. Một bản đồ vẽ tay của khu vực quanh Nguyệt Đô, đánh dấu những điểm "quan sát được ánh sáng bất thường". Một dòng ghi chú về một tổ trinh sát mười hai người đã mất liên lạc gần sáu tuần trước, không có bất kỳ tín hiệu nào kể từ đó — nhưng, theo một nguồn tin không ghi rõ, có thể vẫn còn sống, bị giữ lại bên trong. Và cuối cùng, một dòng viết tay khác với nét chữ, gạch chân hai lần:
Tiếng chuông reo đủ ba tiếng liên tiếp — rút lui ngay lập tức, không chờ lệnh, không quay lại tìm người lạc đội hình.
Không ai hỏi điều gì sẽ xảy ra sau tiếng chuông thứ ba. Có lẽ vì không ai trong phòng chỉ huy viết ra dòng chữ ấy biết câu trả lời, hoặc biết nhưng không đủ can đảm viết nó thành chữ.
"Mười hai người," Kiên lặp lại, rất khẽ, như đang cố nhớ xem con số đó có ý nghĩa gì với riêng cậu không. "Sáu tuần rồi vẫn có thể còn sống à?"
"Ở đây," Súa nói, không nhìn ai, "sống và chết không còn nghĩa giống như trước nữa. Đừng đặt cược hy vọng của mình vào định nghĩa cũ."
Chúng tôi tiến vào vùng ảnh hưởng của Nguyệt Đô lúc xế chiều hôm sau, theo đội hình chia nhỏ dọc một con đường mòn ven biển đã bị cây dại nuốt chửng quá nửa. Chính tại khúc quanh cuối cùng trước khi con đường đổ dốc xuống một thung lũng ven biển rộng, tôi nhìn thấy nó lần đầu tiên.
Nguyệt Đô không giống bất cứ hình dung nào tôi từng có trong đầu suốt bốn ngày hành quân. Nó là một thành phố — mái ngói cong, tường thành cũ, những dãy phố lát đá san sát nhau trải dài xuống tận mép nước — và nó, bằng một cách nào đó không thể giải thích bằng bất cứ kiến thức địa lý nào tôi từng học, trông vẹn nguyên. Không đổ nát. Không hoang tàn. Đèn lồng đỏ treo dọc những con phố tôi có thể nhìn thấy từ xa, ánh sáng ấm áp hắt ra từ khung cửa sổ, và xa xa, tiếng người xì xào, tiếng rao hàng, tiếng trẻ con cười đùa vọng lên theo gió biển — một thành phố đang sống, đang thở, giữa một đất nước mà mọi nơi khác tôi từng đi qua đều mang dáng vẻ của một vết thương chưa lành.
Bầu trời phía trên nó không phải bầu trời chiều tà bình thường. Một vầng trăng tròn, to bất thường so với kích thước thật của mặt trăng, treo lơ lửng ngay trên đỉnh thành phố dù mặt trời vẫn còn chưa lặn hẳn ở phía chân trời sau lưng chúng tôi — và ánh trăng ấy đỏ, đúng thứ ánh sáng tôi đã thấy đêm đầu tiên rơi vào thế giới này, đúng thứ ánh sáng đã soi lên gương mặt ba người lính chĩa súng vào tôi giữa cánh đồng cháy.
"Đẹp quá," Kiên buột miệng, rồi ngay lập tức có vẻ xấu hổ vì đã nói ra điều đó giữa một chiến dịch quân sự. Nhưng không ai cười cậu, vì tất cả chúng tôi, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi đáng xấu hổ y hệt, đều đã nghĩ đúng như vậy.
Súa là người phá vỡ khoảnh khắc đó.
"Nhìn kỹ lại đi," cô nói. "Không ai trong thành phố đó có bóng."
Tôi nhìn lại, và cô nói đúng. Dưới ánh trăng đỏ đủ sáng để đổ bóng dài trên mặt đường, không một hình người nào tôi thấy thấp thoáng sau ô cửa sổ, không một dáng đi lại nào trên phố, để lại phía sau nó dù chỉ một vệt tối nhỏ nhất.
Thiếu tá Lâm chia chiến dịch thành ba mũi. Đội của Tuấn, cùng hai đội khác, được giao nhiệm vụ tiến vào từ phía đông, men theo tường thành cũ, tìm đường xuống khu vực được đánh dấu trên bản đồ là nơi có khả năng cao nhất giam giữ tổ trinh sát mất tích — một toà nhà lớn ở trung tâm thành phố mà từ xa trông giống một ngôi chùa cổ, mái cong nhiều tầng vươn cao hơn hẳn những mái nhà xung quanh.
Chúng tôi vượt qua cổng thành không gặp trở ngại nào, và đó chính là điều đầu tiên khiến tôi thấy bất an hơn bất cứ cuộc phục kích nào có thể xảy ra. Không có lính gác. Không có bẫy. Cánh cổng gỗ nặng nề đơn giản chỉ mở ra trước chúng tôi, như một cánh cửa nhà đã quen chờ khách về.
Bên trong tường thành, thành phố còn sống động hơn cả những gì tôi thấy từ xa. Những gian hàng chất đầy trái cây tươi, cá còn tanh mùi biển, vải vóc màu sắc rực rỡ treo phất phơ — nhưng khi Kiên, không kìm được tò mò, đưa tay chạm vào một quả cam trên sạp hàng gần nhất, nó vỡ tan thành một nắm tro xám ngay dưới ngón tay cậu, không hề có tiếng động, không hề có mùi cháy.
Người bán hàng đứng sau sạp — một bà lão với nụ cười hiền hậu không hề thay đổi từ lúc chúng tôi bước tới cho đến khi quả cam vỡ vụn — không hề phản ứng gì. Bà tiếp tục mỉm cười, tiếp tục với động tác sắp xếp lại những quả cam còn lại, những quả cũng sẽ vỡ tan thành tro nếu có ai chạm vào, theo đúng một nhịp điệu không hề thay đổi, không hề nhận ra có bất cứ điều gì bất thường vừa xảy ra ngay trước mặt bà.
"Giống cái làng đó," tôi nói, nhớ tới người phụ nữ quét sân và đứa trẻ tung bóng trong thung lũng chúng tôi đã vội vã rời đi mấy ngày trước.
"Không giống," Súa đáp, giọng căng thẳng hơn tôi từng nghe từ cô. "Cái làng đó mắc kẹt trong một khoảnh khắc thật. Còn đây—" cô nhìn quanh những gian hàng, những ngôi nhà, những bóng người mờ ảo sau khung cửa "—đây không phải một khoảnh khắc bị mắc kẹt. Đây là một khoảnh khắc chưa từng có thật để mắc kẹt vào."
Chúng tôi tiến sâu hơn vào thành phố khi trời tối hẳn, ánh trăng đỏ trở thành nguồn sáng duy nhất, nhuộm mọi mái ngói, mọi bức tường thành một sắc màu như máu đã khô. Càng đi sâu, tiếng ồn ào sinh hoạt của thành phố càng lớn hơn — nhưng không một ai trong chúng tôi còn nhìn thấy rõ một bóng người nào đi lại trên phố nữa, chỉ còn âm thanh, vọng ra từ khắp phía, không có nguồn gốc xác định.
Kiên là người đầu tiên dừng bước.
Cậu đứng sững trước một khung cửa sổ sáng đèn của một căn nhà nhỏ ven đường, và khi tôi nhìn theo hướng mắt cậu, tôi thấy — hoặc Kiên thấy, tôi không bao giờ chắc chắn liệu tôi có thật sự nhìn thấy hay chỉ nhìn thấy phản ứng của cậu — một lớp học nhỏ bên trong, bàn ghế gỗ xếp ngay ngắn, và những đứa trẻ ngồi quay lưng ra cửa sổ, đang chăm chú nhìn lên một tấm bảng đen.
"Tí," Kiên thì thầm, bước một bước về phía cửa sổ. "Đó là Tí. Cái áo đó, cái nơ đó, tôi may cho nó hồi—"
Cậu đếm. Tôi thấy môi cậu mấp máy, đếm từng cái đầu nhỏ quay lưng ra phía chúng tôi, và ở số hai mươi lăm, cậu khựng lại.
"Ba mươi hai," cậu nói, giọng đột nhiên rất tỉnh táo, rất lạnh. "Lớp tôi có ba mươi mốt đứa. Tôi đếm ba mươi hai cái đầu."
Cậu lùi lại một bước, rồi một bước nữa, tay nắm chặt lấy quai súng, và không nhìn lại khung cửa sổ đó thêm một lần nào nữa, dù tôi thấy hàm cậu nghiến chặt suốt cả quãng đường sau đó.
Súa không dừng lại trước bất cứ khung cửa nào. Khi tôi hỏi cô, rất khẽ, liệu có nhìn thấy gì không, cô chỉ lắc đầu.
"Có," cô thừa nhận, sau một lúc im lặng. "Tôi thấy một cái chợ, và mẹ tôi đứng bán rau ở đó, y hệt bà vẫn làm mỗi sáng." Giọng cô không hề run. "Nhưng người Thái chúng tôi có một câu: đừng bao giờ tin vào ai gọi tên mình trước khi mình kịp nhận ra giọng nói. Bà không gọi tên tôi. Bà chỉ đứng đó, chờ tôi tự bước tới. Người thật không chờ như vậy."
Tôi không có gì để nhìn thấy, không ký ức nào đủ sâu ở thế giới này để thành phố dùng làm mồi nhử — có lẽ đó là lần đầu tiên tôi thấy biết ơn vì mình vẫn còn là một kẻ xa lạ ở đây.
Nhưng Tuấn thì dừng lại.
Ông dừng lại trước một cánh cổng gỗ nhỏ dẫn vào một khoảng sân sau một ngôi nhà tôi không kịp nhìn rõ, và ông đứng đó, bất động, lâu đến mức Kiên phải quay lại gọi tên ông hai lần trước khi ông có phản ứng.